Quảng Bình: Xây dựng và phát triển đô thị Đồng Hới để thúc đẩy nền kinh tế toàn tỉnh

Quảng Bình: Xây dựng và phát triển đô thị Đồng Hới để thúc đẩy nền kinh tế toàn tỉnh

(Xây dựng) – Đồng Hới là trung tâm kinh tế, là nơi giao thương của các vùng miền trong tỉnh. Do đó, việc xây dựng và phát triển đô thị Đồng Hới sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh. Đây là mục tiêu mà UBND tỉnh ban hành Chương trình phát triển đô thị thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2017 – 2025, định hướng đến năm 2035 tại Quyết định số 1413/QĐ-UBND ngày 02/4/2018.

Dáng vóc đô thị Đồng Hới hiện nay.

Theo đó, Chương trình đã cụ thể hóa định hướng phát triển không gian đô thị theo định hướng Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, Quy hoạch chung đô thị đã được phê duyệt, phù hợp với chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh, làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển đô thị, các khu vực ưu tiên đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch cho từng giai đoạn 5 năm và hàng năm.

Đây cũng là cơ sở để lập các đề án đánh giá nâng loại đô thị, xây dựng kế hoạch, lộ trình phát triển mạng lưới đô thị và phát huy những lợi thế có sẵn phù hợp với các đồ án Quy hoạch chung được duyệt; khai thác sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực tạo ra môi trường sống chất lượng tốt cho cư dân đô thị, đảm bảo lợi ích cộng đồng.

Ngoài ra, Chương trình còn đề xuất các khu vực phát triển đô thị giai đoạn 2017 – 2035; danh mục các dự án đầu tư các chương trình phát triển đô thị giai đoạn 2018 – 2025 và giai đoạn 2025 – 2035; khu vực phát triển đô thị ưu tiên thực hiện giai đoạn 2018 – 2025…

TP Đồng Hới phấn đấu đến năm 2025, diện tích sàn nhà ở bình quân phấn đấu đạt khoảng 29m2/người; tỷ lệ nhà kiên cố đạt khoảng 97%; tỷ lệ đất giao thông so với diện tích đất xây dựng đô thị đạt 25%; Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng trở lên đạt 15%; tỷ lệ dân số được cấp nước sạch đạt 100%, tiêu chuẩn cấp nước đạt 120 lít/người/ngày đêm; dân số vãng lai đạt 80 lít/người/ngày đêm; tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt 90% diện tích lưu vực thoát nước trong đô thị; tỷ lệ nước thải sinh hoạt tập trung được thu gom và xử lý đạt 60%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm đạt 100%.

Cùng với đó, 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý; tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch dưới thu gom 18%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý đạt 100% rác thải y tế, chất thải rắn công nghiệp (thông thường và nguy hại) được thu gom và xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường; tỷ lệ chiếu sáng các tuyến đường chính đạt 100%; tỷ lệ chiếu sáng khu nhà ở, ngõ xóm đạt 85%; diện tích đất cây xanh đô thị phấn đấu đạt 8m2/người; đất cây xanh công cộng khu vực nội thị 6m2/người.

Đến năm 2035, diện tích sàn nhà ở bình quân đạt khoảng 30m2/người; tỷ lệ nhà kiên cố đạt 99%; tỷ lệ đất giao thông so với diện tích đất xây dựng đô thị đạt tối thiểu 25%; tỷ lệ vận tải hành khách công cộng các đô thị đạt 30%; tỷ lệ dân số được cấp nước sạch đạt 100%, tiêu chuẩn cấp nước cho đô thị đạt 150 lít/người/ngày đêm; dân số vãng lai đạt 100 lít/người/ngày đêm; tỷ lệ bao phủ của hệ thống thoát nước đạt 95% diện tích lưu vực thoát nước trong đô thị, tỷ lệ nước thải sinh hoạt tập trung trong đô thị được thu gom và xử lý đạt 80%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm đạt 100%.

Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch dưới 15%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý đạt 100%; 100% rác thải y tế, chất thải công nghiệp (thông thường và nguy hại) phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo yêu cầu về môi trường; tỷ lệ chiều dài các tuyến đường chính và khu nhà ở, ngõ xóm được chiếu sáng đạt tỷ lệ 100%; diện tích đất cây xanh đô thị phấn đấu đạt 10m2/người; đất cây xanh công cộng khu vực nội thị đạt 7m2/người.

PV

 

Share this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.